Nền tảng của xã hội học tập số (Kỳ 1): "Học, học nữa, học mãi"

Bài viết thuộc chuyên mục “Xây dựng văn hóa số, đồng hành chuyển đổi số”, theo Kế hoạch 108-KH/ĐU ngày 03/7/2025 của Đảng ủy Vietcombank về triển khai tuyên truyền văn hóa số tại Vietcombank, nhằm triển khai mạnh mẽ, đồng bộ việc xây dựng và lan tỏa văn hóa số trong toàn hệ thống; khơi dậy tinh thần đổi mới, hợp tác và sáng tạo; nâng cao nhận thức, chuyển hóa hành vi, góp phần thực hiện Nghị quyết 2588-NQ/ĐU ngày 19/3/2025 của Đảng ủy Vietcombank và Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 

Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi nội dung, cách thức, thời điểm và mục đích của học tập. Trong thế giới ngày nay khi tri thức liên tục được cập nhật và nhiều kỹ năng có thể nhanh chóng trở nên lạc hậu, học tập suốt đời có lẽ đã không còn đơn thuần là một khẩu hiệu mang tính khuyến khích mà đối với nhiều người, học tập suốt đời đang trở thành điều kiện để thích ứng và làm chủ tương lai của chính mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về “học tập suốt đời”. Trong ảnh: Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN)

Trong một thời gian dài, quá trình học tập vẫn luôn được hình dung theo kiểu tuyến tính. Các cá nhân học tập trong những năm đầu đời, tích lũy bằng cấp và chuyên môn, rồi sử dụng vốn tri thức ấy trong phần lớn quãng thời gian lao động. Nhà trường là nơi truyền thụ kiến thức; giáo viên giữ vai trò trung tâm; việc học được tổ chức thành các chương trình có điểm bắt đầu, kết thúc và được xác nhận bằng văn bằng hoặc chứng chỉ. Mô hình đó vẫn còn ý nghĩa trong xã hội ngày nay nhưng không còn đủ để đáp ứng một thế giới đang biến đổi với tốc độ ngày càng nhanh.

AI, tự động hóa, dữ liệu lớn, học máy và nhiều công nghệ mới đang làm thay đổi thị trường lao động, phương thức sản xuất và cách thức vận hành của xã hội.

Những con số biết nói

Theo “The Future of Jobs Report 2025” (tạm dịch: Báo cáo về tương lai việc làm năm 2025) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), tài liệu được xây dựng trên cơ sở khảo sát hơn 1.000 doanh nghiệp đại diện cho hơn 14 triệu lao động tại 55 nền kinh tế, khoảng 39% kỹ năng cốt lõi của lực lượng lao động toàn cầu sẽ thay đổi vào năm 2030 [1]. Báo cáo cũng dự báo các xu hướng công nghệ, kinh tế, nhân khẩu học và chuyển đổi xanh có thể tạo ra khoảng 170 triệu việc làm mới, đồng thời làm mất đi khoảng 92 triệu việc làm hiện có. Kết quả là thị trường lao động toàn cầu sẽ tăng ròng khoảng 78 triệu việc làm [2] song cấu trúc nghề nghiệp và yêu cầu năng lực sẽ tái định hình sâu sắc.

Trong bối cảnh ấy, một tấm bằng không còn có thể bảo đảm rằng người sở hữu nó sẽ duy trì năng lực nghề nghiệp trong nhiều thập niên nếu không tiếp tục học tập và cập nhật. Một kỹ năng từng được xem là chuyên sâu có thể trở thành phổ biến. Một quy trình quen thuộc có thể được tự động hóa một cách giản đơn. Một nghề nghiệp mới có thể xuất hiện trước cả khi hệ thống giáo dục chính quy kịp xây dựng chương trình đào tạo tương ứng. Cùng với sự thay đổi của việc làm là sự thay đổi của chính nhu cầu học tập.

Trong báo cáo Education Policy Outlook 2025 (tạm dịch: Triển vọng Chính sách Giáo dục năm 2025), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) khẳng định “học tập suốt đời là một ưu tiên chiến lược và là nền tảng để xây dựng các xã hội bao trùm, có khả năng chống chịu và sẵn sàng cho tương lai” [3]. OECD cho rằng trong bối cảnh những thay đổi nhanh chóng về công nghệ, kinh tế và xã hội, các chính sách giáo dục cần đặt năng lực chủ động của người học (learner agency) ở vị trí trung tâm. Người học suốt đời là những cá nhân “chủ động tham gia vào quá trình học tập nhờ 3 yếu tố gồm động lực (will), kỹ năng (skills) và các điều kiện hỗ trợ (means) để xác định, tiếp thu và vận dụng kiến thức mới trong các bối cảnh khác nhau” [4]. Một người học hiệu quả không đơn thuần là chỉ tham gia các chương trình đào tạo khi được yêu cầu mà còn có khả năng nhận diện nhu cầu học tập của bản thân, chủ động tìm kiếm cơ hội học tập, tiếp thu tri thức và kỹ năng mới, đồng thời vận dụng chúng để thích ứng với những thay đổi của cuộc sống và công việc. Đây được xem là một yếu tố quan trọng để xây dựng các xã hội có khả năng chống chịu và thích ứng trong tương lai.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Hội nghị của Trung ương về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia năm 2025. (Ảnh: TTXVN)

Từ “lăng kính” văn hóa số

Trên thực tế, khả năng học tập suốt đời không chỉ phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân mà còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa mà họ đang sống. Khác với môi trường học tập truyền thống vốn dựa chủ yếu vào nhà trường và các thiết chế giáo dục chính quy, văn hóa số mở rộng không gian học tập ra toàn xã hội, nơi bất kỳ ai cũng có thể vừa học, vừa chia sẻ và vừa tạo ra tri thức. Khi việc tìm kiếm thông tin, chia sẻ tri thức, tham gia cộng đồng trực tuyến hay học tập trên nền tảng số trở thành hoạt động thường nhật, một dạng văn hóa mới cũng dần hình thành. Đó là văn hóa số, cách con người tiếp cận tri thức, học hỏi lẫn nhau trên không gian số và duy trì việc học trong suốt cuộc đời.

Và chính trong xã hội đó, người lao động có thể vừa làm việc vừa học thêm để thích ứng với công nghệ mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Người trẻ tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn, từ nhà trường, khóa học mở, cộng đồng nghề nghiệp đến các công cụ trí tuệ nhân tạo. Người cao tuổi tiếp cận những kỹ năng số để sử dụng dịch vụ công, tiếp cận dịch vụ y tế và duy trì kết nối xã hội.

Điểm khác biệt căn bản giữa văn hóa học tập truyền thống và văn hóa học tập trong môi trường số không nằm ở mục tiêu học tập mà ở cách tri thức được tạo ra, lan truyền và cập nhật. Trong mô hình truyền thống, tri thức chủ yếu được truyền theo chiều dọc, từ giáo viên tới người học, từ nhà trường tới xã hội; nội dung học tập tương đối ổn định và được chuẩn hóa. Trong môi trường số, tri thức vận động theo mạng lưới. Người học đồng thời cũng có thể trở thành người chia sẻ tri thức, sáng tạo và lan truyền tri thức, nội dung liên tục được cập nhật, phản biện và bổ sung theo thời gian thực. Công nghệ, các cộng đồng trực tuyến và các nền tảng số trở thành một phần của hệ sinh thái học tập. Học tập không còn gắn với một giai đoạn nhất định mà trở thành quá trình kéo dài xuyên suốt vòng đời của mỗi người. Và khi việc học trở thành nhu cầu thường trực của số đông, yêu cầu đặt ra đối với xã hội là xây dựng môi trường để mọi người có thể học tập ở mọi giai đoạn của cuộc sống, trong nhiều bối cảnh khác nhau và bằng nhiều hình thức khác nhau.

Tuy nhiên, công nghệ tự thân nó không tạo ra một xã hội học tập và văn hóa học tập. Hạ tầng số có thể mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, giúp việc học trở nên thuận tiện hơn, nhưng điều kiện quan trọng là mỗi cá nhân chủ động học hỏi, biết khai thác công nghệ để tiếp nhận, kiểm chứng, chia sẻ và vận dụng tri thức vào thực tiễn. Nói cách khác, giá trị bền vững nhất của xã hội học tập trong thời đại số không nằm ở việc sở hữu nhiều công nghệ hơn, mà ở việc nuôi dưỡng được năng lực học, học nữa, học mãi như một phẩm chất thường trực của mỗi con người.

Ban Tuyên giáo Đảng ủy Vietcombank


[1] WEF (2025), Future of Jobs Report 2025, trang 32

[2] WEF (2025), Future of Jobs Report 2025, trang 5, trang 18

[3] OECD (2025), Education Policy Outlook 2025: Nurturing Engaged and Resilient Lifelong Learners in a World of Digital Transformation, trang 16

[4] OECD (2025), Education Policy Outlook 2025: Nurturing Engaged and Resilient Lifelong Learners in a World of Digital Transformation, trang 23

Từ chối
Chúng tôi sử dụng cookie để phục vụ tốt hơn.
Chấp nhận