Nền tảng của xã hội học tập số (Kỳ 4): “Sẵn sàng đổi mới”

Bài viết thuộc chuyên mục “Xây dựng văn hóa số, đồng hành chuyển đổi số”, theo Kế hoạch 108-KH/ĐU ngày 03/7/2025 của Đảng ủy Vietcombank về triển khai tuyên truyền văn hóa số tại Vietcombank, nhằm triển khai mạnh mẽ, đồng bộ việc xây dựng và lan tỏa văn hóa số trong toàn hệ thống; khơi dậy tinh thần đổi mới, hợp tác và sáng tạo; nâng cao nhận thức, chuyển hóa hành vi, góp phần thực hiện Nghị quyết 2588-NQ/ĐU ngày 19/3/2025 của Đảng ủy Vietcombank và Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.


Một kiến thức từng rất hữu ích có thể trở nên lạc hậu khi xã hội, thị trường, công nghệ và phương thức làm việc thay đổi. Một kinh nghiệm từng giải quyết tốt vấn đề của hôm qua chưa chắc đã còn là lựa chọn tối ưu cho ngày mai.

Nhận thức được giới hạn của những gì mình đã biết cũng là yếu tố thôi thúc con người tiếp tục tìm hiểu, cập nhật và sẵn sàng xem xét lại những cách làm đã trở nên quen thuộc. Tinh thần ấy càng có ý nghĩa trong quá trình xây dựng xã hội học tập thời đại số hiện nay, bởi công nghệ có thể đang phát triển với tốc độ và quy mô chưa từng có, theo đó mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, nhưng quá trình này chỉ thực sự có giá trị khi mỗi cá nhân đảm bảo được năng lực học hỏi, biết chọn lọc, vận dụng tri thức phù hợp và thích ứng với những đổi thay của thực tiễn.

Đi từ nhận thức

Tuy nhiên, nhận ra giới hạn của những gì mình biết mới chỉ là điểm khởi đầu. Trong môi trường số, khoảng cách từ việc có thể tiếp cận tri thức đến khả năng thực sự học hỏi, cập nhật và làm mới hiểu biết của mỗi người vẫn chịu tác động của nhiều rào cản.

Thứ nhất, thách thức mà con người trong thời đại số hiện nay phải đối mặt là việc nhận diện đâu là thông tin đáng tin cậy, là tri thức thực sự có giá trị giữa “bể thông tin” khổng lồ. Tin giả, thông tin sai lệch, những nội dung thiếu kiểm chứng hoặc bị cắt khỏi bối cảnh cụ thể có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh trên không gian mạng. Tại đó, nhất là các mạng xã hội, nơi cảm xúc nhiều khi được ưu tiên hơn lý trí và sức hấp dẫn của nội dung mang tính giật gân, ly kỳ có thể lấn át độ chính xác, người tiếp nhận dễ rơi vào tình trạng nhiễu loạn thông tin, khó phân biệt đâu là tri thức thực sự có giá trị.

Nguy cơ có thể đến từ việc tiếp nhận thông tin sai, và thậm chí là cả cảm giác “đã biết” có thể hình thành rất nhanh từ những thông tin chưa được kiểm chứng hoặc chưa được hiểu đầy đủ. Ý thức được giới hạn của những điều mình tiếp nhận vì thế càng trở thành một điều kiện quan trọng để tiếp tục tìm hiểu, đối chiếu và đi sâu vào bản chất của vấn đề.

Thứ hai, nguy cơ có thể nảy sinh khi nhầm lẫn việc tiếp cận tri thức với năng lực học tập thực sự. Công nghệ giúp việc tìm kiếm thông tin, tài liệu và những lời giải cho một vấn đề trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, tiếp cận rộng hơn chưa chắc đồng nghĩa với hiểu biết nhiều hơn. Khi khối lượng thông tin con người có thể tiếp nhận tăng nhanh hơn khả năng xử lý và phân tích, người ta rất dễ rơi vào tình trạng đọc nhiều nhưng nhớ ít, biết nhiều mẩu thông tin rời rạc nhưng thiếu khả năng kết nối chúng thành những hiểu biết có hệ thống. Nói cách khác, năng lực học tập trong môi trường số ngày càng phụ thuộc vào khả năng đặt câu hỏi, đối chiếu, kiểm chứng và chuyển hóa thông tin thành tri thức có thể vận dụng trong thực tiễn.

Thứ ba, khó khăn đôi khi lại bắt đầu từ chính cảm giác về những gì đã biết và cho rằng chúng là đã đủ. Đây là một tâm lý dễ hiểu, bởi kiến thức và kinh nghiệm từng mang lại kết quả thường tạo nên sự tự tin và cảm giác an toàn về những gì quen thuộc. Tuy nhiên, trong một môi trường liên tục thay đổi, kinh nghiệm trong quá khứ không phải lúc nào cũng có thể trở thành lời giải cho những vấn đề mới. Khả năng học tập vì thế còn thể hiện ở việc mỗi cá nhân và tổ chức có đủ cởi mở để nhận ra khi nào những hiểu biết cũ cần được bổ sung, điều chỉnh hoặc thay thế kịp thời.

Thứ tư, nhận thức được giới hạn hiểu biết của bản thân cũng cần phải song hành với việc học hỏi từ người khác. Một bài học từ thực tiễn, kinh nghiệm xử lý tình huống, một sáng kiến cải tiến hay thậm chí một sai sót đã được phân tích đầy đủ đều có thể bổ sung vào hiểu biết chung của cả một tập thể. Nếu những kinh nghiệm ấy chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân hoặc một đơn vị, tổ chức sẽ khó tích lũy được tri thức qua thời gian và những bài học tương tự có thể phải trả giá nhiều lần. Vì lẽ đó, việc xây dựng xã hội học tập tiến bộ còn đòi hỏi khả năng trao đổi, phản biện và chia sẻ những tri thức có thể chia sẻ, trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về bảo mật và trách nhiệm nghề nghiệp.

Thứ năm, nhận thức được về sự cần thiết của việc học không đồng nghĩa với việc có thể duy trì việc học trong dài hạn. Bắt đầu tìm hiểu một vấn đề mới thường không quá khó; điều khó hơn là giữ được kỷ luật học tập trước áp lực từ cuộc sống, công việc, những ưu tiên ngắn hạn và sự phân tán thường trực trong môi trường số. Học tập suốt đời chỉ thực sự trở thành một năng lực khi việc học được duy trì đủ lâu để trở thành một phần tự nhiên trong công việc và cuộc sống.

Trong môi trường số thay đổi nhanh chóng, tinh thần cởi mở học hỏi và sẵn sàng đổi mới chính là nền tảng giúp mỗi người Vietcombank thích ứng, phát triển và tạo ra giá trị mới

Tới hành động cụ thể

Nhìn từ những thách thức trên, vấn đề lớn nhất trong xây dựng xã hội học tập số bền vững và hiệu quả chính là bồi đắp năng lực và nuôi dưỡng môi trường để mỗi người biết mình cần học gì, học như thế nào, khi nào cần sự linh hoạt và cởi mở trước những yêu cầu mới. Nói cách khác, tư duy cần phải chuyển từ “đào tạo khi cần” sang “học tập suốt đời”; chú trọng năng lực lựa chọn, kiểm chứng và sử dụng thông tin; tạo cơ chế để kinh nghiệm thực tiễn được chia sẻ, phản biện và tích lũy; đồng thời đưa tinh thần học hỏi, đổi mới sáng tạo trở thành một giá trị bền vững trong văn hóa tổ chức.

Cũng chính trong tiến trình ấy, các tổ chức đảng, công đoàn và đoàn thể có vai trò quan trọng trong định hướng, khuyến khích và lan tỏa tinh thần học tập thông qua việc tôn vinh những tấm gương tự học, nhân rộng sáng kiến, tạo không gian trao đổi kinh nghiệm và khuyến khích cán bộ, đảng viên, người lao động chủ động tìm tòi, cập nhật tri thức mới.

Tại Vietcombank, bên cạnh các chương trình đào tạo định kỳ, việc phát triển kho tri thức số dùng chung với các bài giảng gắn với thực tiễn công việc, thư viện điện tử cùng nhiều hoạt động đọc và chia sẻ kiến thức đang góp phần mở rộng không gian học tập, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên và người lao động chủ động tiếp cận nội dung phù hợp với nhu cầu công việc. Góp phần làm đa dạng hơn hệ sinh thái học tập tại Vietcombank là công sức và trách nhiệm của gần 400 giảng viên kiêm nhiệm được lựa chọn từ các đơn vị Trụ sở chính và chi nhánh đang tham gia giảng dạy trung bình trên 200 khóa học mỗi năm, tích cực đưa kinh nghiệm nghiệp vụ và các tình huống thực tiễn trở thành nguồn tri thức bền vững, lan tỏa và góp phần vào sự phát triển chung [1]. Sự kết hợp giữa nền tảng số với tri thức được tích lũy ngay trong tổ chức là những minh chứng rõ nét nhất phản ánh sự quan tâm, định hướng của Đảng ủy và Ban Lãnh đạo Vietcombank trong việc trao “quyền lựa chọn” để cán bộ, đảng viên, và người lao động mở rộng khả năng tiếp cận nhiều nguồn tri thức khác nhau một cách linh hoạt, phù hợp.

Có lẽ đó cũng là một phần ý nghĩa sâu xa của “học tập suốt đời”: luôn giữ mình ở trạng thái sẵn sàng đón nhận điều mới, nhận ra giới hạn của những gì đã biết và tiếp tục học hỏi khi thực tiễn thay đổi. “Stay hungry. Stay foolish”! [2].

Ban Tuyên giáo Đảng ủy Vietcombank


[2] Tạm dịch: “Hãy luôn khát khao. Hãy luôn dại khờ - Câu nói nổi tiếng được Steve Jobs nhấn mạnh trong bài phát biểu tốt nghiệp Đại học Stanford năm 2005. Đây không phải là câu nói của ông mà là dòng chữ xuất hiện tại bìa sau số báo cuối cùng của The Whole Earth Catalog, ấn phẩm của Stewart Brand và các cộng sự, một trong những “ấn phẩm gối đầu giường của thế hệ tôi”, trích bài phát biểu của Steve Jobs.

Từ chối
Chúng tôi sử dụng cookie để phục vụ tốt hơn.
Chấp nhận