Tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đạt gần 120.000 tỷ quy đồng
Tổng nguồn vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (NHNT) tính đến cuối tháng 12/2004 đạt gần 120.000 tỷ quy đồng, tăng hơn 22% so với cuối năm 2003, vượt hơn 6% so với kế hoạch. Trong đó VND là gần 47.000 tỷ, tăng 13%, vốn ngoại tệ đạt hơn 73.000 tỷ quy đồng tăng gần 29%. Những nhân tố thuận lợi khách quan làm tăng vốn huy động ngoại tệ của NHNT là nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu tăng mạnh do năm vừa qua Việt Nam có những bứt phá mới (kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 26 tỷ USD); nguồn thu ngoại tệ từ kiều hối tăng mạnh; lãi suất USD tăng, kinh tế ổn định.

Vốn huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế trong năm 2004 của NHNT tăng gần 17% so với cuối năm 2003, đạt khoảng hơn 88.500 tỷ qui đồng (chiếm hơn 82% tổng nguồn), vốn huy động có kỳ hạn tăng hơn 14% so với cuối năm ngoái và đạt trên 46.800 tỷ quy VND.

Kết quả tăng trưởng nguồn vốn trên đạt được là nhờ trong năm NHNT đã có định hướng và giải pháp tốt cho công tác huy động như tập trung mở rộng mạng bán lẻ (phát triển thẻ ATM-Connect 24 với nhiều tiện ích mới từ đó tăng được lượng tài khoản cá nhân lên 500.000 tài khoản; đưa ra thêm các dịch vụ sản phẩm ngân hàng giá trị gia tăng; mở rộng mạng lưới chi nhánh-phòng giao dịch và hệ thống máy ATM; thực hiện giao dịch một cửa...), nâng cao uy tín, thương hiệu trên thị trường và trong công chúng. Ngoài ra, NHNT đã rất chú trọng đến việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng như mở rộng diện cung ứng dịch vụ quản lý vốn tập trung cho doanh nghiệp, đa dạng hoá công cụ huy động vốn ( tháng 07/2004 NHNT phát hành chứng chỉ tiền gửi ngoại tệ 2 năm với lãi suất hấp dẫn; từ 24/12/2004 triển khai hình thức tiết kiệm bảo an). Đặc biệt, cùng với các giải pháp công nghệ do Dự án hiện đại hoá NH và hệ thống thanh toán cung cấp, hệ thống thông tin quản lý vốn của NHNT ngày càng được hoàn thiện, hỗ trợ hiệu quả việc thực thi các chính sách tỷ giá, lãi suất linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường và ra các quyết định kinh doanh kịp thời.

Trong năm 2004, Vietcombank đã ký hợp đồng tín dụng trung hạn (5 năm) có trị giá 150 triệu USD với ngân hàng RZB (áo) nhằm cơ cấu lại nguồn vốn của của mình. Đây là khoản vay thương mại trung hạn đầu tiên có được đối với một ngân hàng Việt Nam, thể hiện hiện uy tín của NHNT trên thị trường quốc tế và cũng mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn vốn đến từ bên ngoài.

Tính đến cuối tháng 12/2004, tổng dư nợ của NHNT đạt hơn 48.920 tỷ quy đồng, tăng hơn 32% so với cuối năm 2003 trong đó dư nợ VND khoảng 23.940 tỷ (tăng gần 23%) và dư nợ ngoại tệ là hơn 1.570 triệu USD (tăng gần 46%). Tín dụng hiện hành chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối ( chiếm hơn 99% tổng dư nợ) nhờ số nợ tồn đọng giảm đáng kể (giảm 386 tỷ) và chỉ còn 0,3% tổng dư nợ.

Tuy có tỷ lệ tăng dư nợ cao nhất trong hệ thống ngân hàng nhưng chất lượng tín dụng của NHNT luôn được đảm bảo bởi ngay từ đầu năm NHNT đã đưa ra chiến lược “tăng trưởng tín dụng thận trọng trên cơ sở tăng cường kiểm tra, kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng”. Chiến lược này được triển khai với nhiều giải pháp đồng bộ như: áp dụng hạn mức tín dụng cho chi nhánh theo điểm xếp hạng chi nhánh; cho điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là doanh nghiệp (trên cơ sở đó đưa ra hạn mức tín dụng và chính sách đối với từng loại khách hàng, có các sản phẩm hoặc gói sản phẩm-dịch vụ phù hợp cũng như đã tính tới độ rủi ro ở mức có thể chấp nhận), giới hạn tín dụng an toàn đối với một số mặt hàng và lĩnh vực đầu tư (trên cơ sở nghiên cứu thị trường, ngành nghề mà đưa ra chính sách tín dụng phù hợp đối với từng vùng và từng ngành)... Chính vì thế, nợ quá hạn đã được kiểm soát ở mức thấp (2,7%).

Đến cuối 12/2004 dư nợ ngắn hạn đạt hơn 29.400 tỷ quy đồng, chiếm hơn 60% tổng dư nợ, tăng hơn 33% so với cuối năm ngoái. Dư nợ ngắn hạn ngoại tệ tăng rất mạnh (54%) là nguyên nhân chủ yếu đưa đến tăng dư nợ tín dụng ngắn hạn.

Dư nợ cho vay trung dài hạn đạt mức hơn 19.000 tỷ quy đồng, chiếm hơn 39% tổng dư nợ, tăng gần 35% so với cuối năm ngoái. Dư nợ trung dài hạn ngoại tệ tăng cao (hơn 42%).

Đến cuối tháng 12/2004 vốn điều lệ và các quỹ của NHNT đạt hơn 6.970 tỷ quy đồng, tăng khoảng 42%, chiếm tỷ trọng khoảng gần 6% so với tổng nguồn vốn. Trong đó vốn điều lệ đạt hơn 3.950 tỷ, tăng hơn 69%. Vốn điều lệ và các quỹ của NHNT trong năm 2004 tăng trên 2.000 tỷ, ngoài yếu tố được Chính phủ cấp thêm 800 tỷ đồng, NHNT còn tự bổ sung bằng việc tăng nguồn lợi nhuận để lại. Tốc độ tăng vốn điều lệ và các quỹ của NHNT nhanh hơn so với tốc độ tăng của tổng nguồn vốn do vậy tỷ lệ an toàn vốn của NHNT trong năm qua được cải thiện một bước.

Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu qua NHNT trong năm 2004 đạt hơn 16.400 triệu USD, tăng hơn 32% so với năm 2003: Doanh số thanh toán xuất khẩu tăng hơn 22% và chiếm gần 27% thị phần của cả nước. Trong khi đó, doanh số thanh toán nhập khẩu tăng hơn 39% và chiếm gần 30% thị phần của cả nước.

Doanh số thanh toán thu và chi phi mậu dịch qua NHNT trong 12 tháng năm 2004 ước đạt 3.100 triệu USD. Trong đó doanh số thu là hơn 1.870 triệu USD (chuyển tiền cá nhân chiếm hơn 34%), doanh số chi là hơn 1.290 triệu USD (chuyển tiền đi của các cơ quan đại diện nước ngoài và tổ chức quốc tế chiếm hơn 32%). Lượng kiều hối chuyển về qua NHNT trong năm 2004 tương đương năm 2003, đạt 400 triệu USD.

Năm 2004, hoạt động kinh doanh ngoại tệ diễn ra trong điều kiện tương đối thuận lợi: kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, nguồn kiều hối dồi dào, tỷ giá USD/VND khá ổn định...

Tổng doanh số mua bán ngoại tệ năm 2004 tại NHNT đạt hơn 13.600 triệu USD, tăng gần 3.550 triệu USD hay hơn 36% so với năm trước, chiếm 33% thị phần cả nước. Trong đó, doanh số mua vào đạt hơn 6.700 triệu USD, tăng hơn 33%; doanh số bán ra đạt 6.900 triệu USD, tăng 37% so với năm ngoái.

Tổng doanh số mua bán ngoại tệ với nước ngoài đạt hơn 7.040 triệu USD, tăng hơn 4.000 triệu USD so với năm 2003 do nhu cầu khách hàng tăng cao và NHNT đã áp dụng rộng rãi hơn các hình thức mua bán ngoại tệ.

Tính đến cuối năm 2004, NHNT phát hành được hơn 516.200 thẻ, trong đó chủ yếu là thẻ Connect 24 (480.000 thẻ, tăng 200% so với năm 2003). Doanh số thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đạt mức kỷ lục là hơn 3.260 tỷ quy đồng, cao gấp đôi năm 2002 và tăng gần 57% so với năm 2003. Tổng giá trị các giao dịch thực hiện qua hệ thống ATM trong năm 2004 là hơn 7.590 tỷ đồng, tăng 149% so với năm trước. Trong đó chuyển khoản là 588 tỷ, 8 tỷ thanh toán hàng hoá dịch vụ và phần còn lại là rút tiền mặt (trong đó 6.500 tỷ là rút bằng thẻ Connect 24, phần còn lại là rút bằng thẻ tín dụng). Cùng với sự phát triển mạnh về tiện ích của thẻ Connect 24, năm 2004 tiếp tục có một sự phát triển lớn về số lượng tài khoản cá nhân mở tại NHNT (tăng hơn 220.000 tài khoản so với năm 2003), nhờ đó NHNT có thể huy động một lượng lớn vốn (khoảng 2.000 tỷ) với lãi suất không kỳ hạn. Tính đến cuối tháng 12/2004, NHNT vẫn là ngân hàng có mạng lưới ATM lớn nhất Việt Nam với 400 máy đặt tại 28 tỉnh thành trong cả nước.

Đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên trong lĩnh vực thẻ là do NHNTVN đã tiến hành đồng loạt các giải pháp như đẩy mạnh mạng lưới giao dịch ATM; tăng cường hợp tác với các tổ chức thẻ Quốc tế như ký thoả ước phát triển thị trường với MasterCard; mở rộng quan hệ với các đối tác chiến lược trong nước như kết nối với các ngân hàng trong liên minh thẻ (đã kết nối với NH Kỹ thương, Quân đội, Nhà Hà Nội, Chohung Vina Bank) và tiếp tục mở rộng liên minh; tích cực quảng bá, maketting đến các đơn vị chấp nhận thẻ, đối tượng khách hàng là CBCNV, sinh viên, các cơ quan công ty nước ngoài cũng như các công ty và doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất; thông tin rộng rãi về dịch vụ thẻ trên các phương tiện thông tin đại chúng… Thẻ Connect 24 từ khi đưa ra thị trường đến nay đã thực sự phát huy thế mạnh về nền tảng công nghệ hiện đại, đạt được những biến chuyển sâu sắc cả về lượng lẫn về chất. Việc nhiều công ty đang thực hiện trả lương qua tài khoản thẻ Connect 24, thanh toán các dịch vụ thiết yếu qua thẻ đang làm thay đổi sâu sắc thói quen dùng tiền mặt trước đây của một bộ phận lớn công chúng. Hiện tại Vietcombank đã kết nối thành công cũng như ký thoả thuận với nhiều nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ như :Điện lực Việt Nam, Bưu điện Sài Gòn, Bảo hiểm AIA, Prudential, VMS, VDC...nên chủ thẻ Connect 24 không chỉ thực hiện được các giao dịch rút tiền, vấn tin tài khoản, chuyển khoản… trên máy ATM mà còn có thể thanh toán phí dịch vụ (điện thoại, phí bảo hiểm, mua thẻ Internet, tiền điện… ), mua hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ.

Sau khi hoàn thành việc triển khai hệ thống Ngân hàng bán lẻ (NHBL) trong toàn hệ thống vào tháng 2 năm 2002, NHNT đã phát triển các tiện ích, sản phẩm mới như chứng chỉ tiền gửi dài hạn, kỳ phiếu lãi suất phân mức, quản lý thấu chi trên tài khoản, tự động tính thuế giá trị gia tăng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, phát triển các chức năng quản lý đồng sở hữu sổ tiết kiệm, quản lý uỷ quyền, chuyển nhượng sổ tiết kiệm...

Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh gay gắt về hoạt động ngân hàng, việc tạo ra và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ cung cấp tiện ích cho khách hàng là một trong các công cụ cạnh tranh hữu hiệu, và hiện đang là lợi thế của NHNT. Sau đây là tình hình phát triển các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng:

+)Phát triển các dịch vụ và tiện ích gia tăng dựa trên dịch vụ Connect-24 và dịch vụ thương mại điện tử V-CPB: (i) Phối hợp với VDC, Viettel triển khai xong dịch vụ bán thẻ Internet, Phonecard qua hệ thống ATM và mạng Internet; (ii) Phối hợp với VMS, EVN (Tp HCM) triển khai xong dịch vụ thanh toán Billing cho hệ thống thuê bao điện thoại di động VMS và thanh toán tiền điện tại Tp. HCM và tiến tới thanh toán tiền điện trên quy mô lớn.

+) Tháng 10/2004, NHNT đã đưa ra các sản phẩm thẻ tín dụng Mastercard “Cội nguồn” và Mastercard “Unembosed” với nhiều tính năng hấp dẫn như có ảnh của chủ thẻ, thanh toán bằng VND và USD mà không mất phí chuyển đổi ngoại tệ, đã được thị trường đón nhận và góp phần không nhỏ vào mức tăng trưởng cao về số thẻ phát hành của MasterCard.

+) Tăng cường các tiện ích trên mạng của NHNT , điển hình là cho phép khách hàng truy cập các thông tin về thẻ tín dụng và tiến tới cho phép thanh toán, sao kê trên Internet, ATM .

+) Triển khai dịch vụ Ngân hàng giám sát, với khách hàng đầu tiên là Viet Fund Management.

+) Sản phẩm tiết kiệm Bảo an mới được đưa ra vào đầu tháng 12 đã và đang thu hút nhiều đối tượng khách hàng.

Trong năm 2004, NHNT đã chính thức khai trương chi nhánh Bắc Ninh, chi nhánh Công ty Cho thuê tài chính tại Tp. HCM. Mô hình chi nhánh cấp II cũng tiếp tục được triển khai với 9 chi nhánh cấp II được khai trương hoạt động, nâng tổng số chi nhánh cấp II lên con số 35 (đưa tổng số chi nhánh của toàn hệ thống lên 61). Ngoài ra mạng lưới các phòng giao dịch cũng đang được mở rộng, hiện có 47 phòng giao dịch trong toàn hệ thống.

Bên cạnh việc phát triển mạng lưới chi nhánh trong nước, việc phát triển và nâng cấp hoạt động các văn phòng đại diện ở nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh. Hiện tại, đề án thành lập VPĐD tại Mỹ đang trong giai đoạn hoàn tất việc kê khai hồ sơ. Đề án thành lập công ty tài chính và dịch vụ chuyển tiền tại Mỹ cũng đang đuợc xây dựng và tiến hành các thủ tục chuẩn bị.

Năm 2004, tổng thu nhập của NHNT đạt hơn 7.000 tỷ đồng, tăng hơn 42% so với năm 2003. Lãi trước thuế (chưa trích lập dự phòng) đạt khoảng 2000 tỷ đồng, tăng 40% so với năm 2003.

Trong năm 2004 nhờ những nỗ lực trong việc đổi mới hoạt động theo chuẩn mực quốc tế để sẵn sàng cho quá trình hội nhập kinh tế thế giới, NHNT VN tiếp tục nhận được sự đánh giá cao của các tổ chức tài chính và các bạn hàng quốc tế. Năm qua, NHNT tiếp tục nhận được các danh hiệu cao quý trên nhiều phương diện do các tổ chức tài chính và các cơ quan thông tấn báo chí tài chính quốc tế uy tín như: “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” lần thứ 5 liên tiếp (2000-2004) của tạp chí The Banker (Anh); “Ngân hàng tốt nhất trong năm 2004 tại Việt Nam” của tạp chí Global Finance World (Mỹ); “Giải thưởng vàng cho quản lý tiền mặt và chất lượng thanh toán toàn cầu” (Global Payments and Cash Management Golden Award) của HSBC chi nhánh Hoa Kỳ; “Ngân hàng có chất lượng thanh toán tốt nhất” (Oustanding Payment Fomatting and Straight -Through Rate) củaThe Bank of New York; “Giải thưởng Ngân hàng có kết quả tốt nhất trong thanh toán đồng đô-la Mỹ nhanh chóng và hiệu quả” (US Dollar STP Excellence Award) của Deutsche Bank.

Ngoài ra, Vietcombank trong năm 2004 cũng đã được Thời báo Kinh tế Việt Nam và Cục xúc tiến thương mại (VIETTRADE) trao tặng danh hiệu “Thương hiệu mạnh 2004” trên cơ sở bình chọn của bạn đọc tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo điện tử - Thời báo Kinh tế Việt Nam (www.vneconomy.com.vn) và Triển lãm Thương hiệu Việt Nam trên Internet (www.thuonghieuviet.com.vn). Năm 2004 còn là năm ghi nhận Vietcombank trở thành ngân hàng đầu tiên của Việt Nam “phủ sóng” mạng thanh toán thẻ của mình ra ngoài biên giới quốc gia (sang Lào) và là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam làm chủ nhà tổ chức một sự kiện quan trọng nhất trong năm của cộng đồng tài chính châu Á - Hội nghị thường niên lần thứ 21 của Hiệp hội ngân hàng châu Á (ABA). Không chỉ được nhiều người biết đến thông qua những sản phẩm - dịch vụ tiện ích, đa dạng, hiện đại và thân thiện, thương hiệu Vietcombank trong năm 2004 còn trở lên gần gũi hơn với công chúng khi Vietcombank trở thành Nhà tài trợ chính thức cho đội tuyển bóng đá nam quốc gia và đội Olympic – U23 Việt Nam.

Kết quả kinh doanh khả quan trong năm 2004 cộng với những thành quả của các năm trước đó đã giúp cải thiện hệ số an toàn vốn của NHNT tăng lên khoảng 7%. Các chỉ tiêu cơ bản khác của Vietcombank sau 4 năm Tái cơ cấu đều có những bứt phá ngoạn mục: Hệ số sử dụng vốn (dư nợ tín dụng/Tổng nguồn vốn) tăng 2 lần từ 20% (năm 2000) lên 40% (năm 2004) trong khi đó tổng nguồn vốn đã tăng từ 65.000 tỷ lên 120.000 tỷ; vào năm 2000 trong 16.000 tỷ dư nợ tín dụng thì nợ xấu chiếm tới 25%, đến nay dư nợ đã đạt 48.000 tỷ song nợ quá hạn của Vietcombank chỉ ở mức dưới 3%; lợi nhuận (chênh lệnh thu nhập và chi phí) tăng 4 lần từ 500 tỷ (năm 2000) lên 2000 tỷ (năm 2004); cơ bản Vietcombank đã làm sạch bảng tổng kết tài sản, áp dụng nhiều mô thức mới và hiện đại theo chuẩn quốc tế vào hoạt động kinh doanh và điều hành; tiến hành kiểm toán quốc tế ngân hàng từ năm 2001 đến này. Tất cả kết quả trên là những tiền đề rất quan trọng để NHNT thực hiện thành công việc cổ phần hoá khi Chính phủ phê duyệt Đề án trong thời gian tới đây.

VCB News

26/01/2005

 

Các tin tức khác